Đánh giá rủi ro trong kiểm toán nội bộ

 

Đánh giá rủi ro trong kiểm toán nội bộ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu hoạt động

 

 

Trong hoạt động SXKD các DN thường phải đối mặt với nhiều loại rủi ro. Những rủi ro này có thể phát sinh do bản thân DN hay từ môi trường kinh tế, chính trị, xã hội bên ngoài. Để hoạt động của đơn vị đạt được hiệu qủa kinh tế cao DN phải quản lý rủi ro thông qua các công cụ khác nhau, trong đó có kiểm toán nội bộ. Bằng việc sử dụng các phương pháp riêng kết hợp với khả năng chuyên môn và địa vị pháp lý nhất định trong DN, kiểm toán nội bộ nhận diện rủi ro, đánh giá rủi ro ở các mức độ khác nhau, từ đó có những tư vấn hợp lý cho lãnh đạo các cấp trong đơn vị để ra quyết định đúng.

Mục tiêu hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp là lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này, các DN phải thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) hữu hiệu. Nhờ đó các nhà quản trị có thể  hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra do hoạt động SXKD gặp những bất trắc khó lường trước, điều hành toàn bộ hoạt động SXKD có hiệu quả và đảm bảo tính hệ thống. Một trong những bộ phận quan trọng của HTKSNB là kiểm toán nội bộ (KTNB). Với chức năng ” đánh giá và cải thiện tính hữu hiệu trong quản trị rủi ro, kiểm soát và đánh giá”[1], KTNB có thể giúp DN thiết lập mục tiêu hoạt động cũng như lập kế hoạch, giám sát quá trình thực hiện các mục tiêu. Với vai trò đó KTNB cần thực hiện đánh giá rủi ro trong hoạt động của DN.

Rủi ro là khả năng xảy ra sự cố bất lợi cho chủ thể, hay có thể hiểu đó là những nguy cơ một hành động hoặc một sự kiện sẽ có ảnh hưởng bất lợi đến việc đạt được các mục tiêu cũng như việc thực hiện thành công những chiến lược kinh doanh của một tổ chức. Khi thực hiện công việc, kiểm toán viên cần phát hiện, xác định phạm vi của rủi ro để báo cáo cũng như có những đề xuất để đơn vị có thể quản lý được rủi ro. Liên quan tới rủi ro, kiểm toán viên nội bộ cần thực hiện một số công việc:

1/ Nhận diện rủi ro

Rủi ro trong doanh nghiệp thường do các nguyên nhân: mâu thuẫn về mục đích hoạt động; các chiến lược  DN đưa ra cản trở việc thực hiện mục tiêu; các yếu tố bên ngoài: chính trị, môi trường – đối thủ cạnh tranh, thay đổi ngành, thay đổi môi trường pháp lý, thị trường tiền tệ;  các yếu tố bên trong: qui trình – hoạt động, xử lý thông tin, công nghệ; thiếu nhân sự chủ chốt, bộ phận quản lý chất lượng yếu, tăng trưởng quá nhanh,…

Nếu xét theo bản chất, rủi ro trong DN gồm:

–  Rủi ro kinh doanh: là rủi ro liên quan tới lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật hay đối thủ cạnh tranh. Loại rủi ro này thường liên quan tới việc tìm kiếm mục tiêu kinh doanh- hàng hóa, dịch vụ từ các nhà cung cấp bên ngoài. Những rủi ro có thể có là thông tin giả mạo hoặc quá mức từ nhà cung cấp, thông tin sai hoặc chậm, quan hệ với nhà cung cấp hiện thời không đạt được giá trị tốt nhất,….

– Rủi ro tài chính: là rủi ro liên quan tới lãi suất, dòng tiền, tỷ giá hối đoái, tiền,… Loại rủi ro này có khả năng phát sinh rất lớn. Các rủi ro cơ bản thường xảy ra là: sai sót trong quản lý dòng tiền dẫn tới thiếu tiền vào thời điểm cấp bách, tổn thất do tỷ giá hối đoái thay đổi bất thường, lựa chọn sai nguồn tiền cần sử dụng làm tăng chi phí tài chính, giảm sự đầu tư, rủi ro liên quan tới doanh thu,…  Chẳng hạn rủi ro hối đoái là hoạt động kinh doanh của một công ty bị tác động bởi những thay đổi trong tỷ giá. Loại rủi ro này dễ xảy ra ở các DN xuất nhập khẩu. Đối với DN nhập khẩu rủi ro xảy ra khi ngoại tệ đơn vị phải trả trong tương lai lên giá so với nội tệ, còn với DN xuất khẩu sẽ ngược lại khi ngoại tệ sẽ nhận trong tương lai giảm giá so với nội tệ.

– Rủi ro nhân nhượng liên quan tới việc vi phạm pháp luật (Luật Kế toán, chuẩn mực kế toán,…). Chẳng hạn, DN có thể ghi nhận doanh thu sai niên độ: ghi nhận doanh thu phải trước ngày có tờ khai xuất khẩu nhưng trong thực tế ghi nhận doanh thu sau ngày có tờ khai xuất khẩu. Ghi nhận doanh thu không đủ điều kiện của VAS 14 và doanh thu không có thực xảy ra chủ yếu ở các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (khách hàng gia công chế biến) và xây dựng vì thời điểm ghi nhận doanh thu khá phức tạp, tùy theo đặc điểm từng ngành nghề.

– Rủi ro điều hành: là những tổn thất về nhân lực chủ chốt, thị trường, độ tin cậy đối với sản phẩm, khách hàng,… Chất lượng và số lượng nhân lực trong các DN liên quan đến việc tuyển dụng, đào tạo, chính sách tiền lương, khen thưởng, kỷ luật. Vì vậy DN có thể gặp các rủi ro: nhân lực thiếu kinh nghiệm, không được đào tạo sâu, chi phí cho lao động quá cao, nhân viên tuyển dụng đã có vi phạm pháp luật, trả lương cho nhân viên không đúng (quá cao hoặc quá thấp), nhân viên vi phạm nội qui, qui chế,…. Các quyết định liên quan tới thị trường (chính sách giá, quảng cáo, lựa chọn nhà phân phối…) có thể dẫn tới những rủi ro: do quảng cáo không hợp lý làm mất khách hàng, chi phí quảng cáo quá cao so với lợi ích đem lại, đơn giá bán xây dựng không hợp lý nên hàng không bán được hoặc doanh thu quá thấp so với chi phí bỏ ra, quyết định nhà phân phối thiếu điều kiện làm ảnh hưởng đến thương hiệu của DN,… Lãnh đạo DN phê duyệt hồ sơ quá gấp nên ra quyết định sai lầm…

Nếu xét theo mục tiêu kiểm toán, KTNB có thể gặp các loại rủi ro:

– Rủi ro về tính tuân thủ: hoạt động của doanh nghiệp không tuân thủ các qui định của luật pháp, chế độ về tài chính, kế toán, bảo vệ môi trường,….

– Rủi ro về tính chính xác: số liệu do kế toán thu thập, xử lý và cung cấp thiếu chính xác do công việc khó kiểm tra, kiểm soát (xây dựng cơ bản), trình độ cán bộ quản lý, kế toán,….

– Rủi ro về tính đúng kỳ: việc ghi nhận doanh thu, chi phí của DN không đúng kỳ phát sinh thực tế.

– Rủi ro về tính hiện hữu: các khoản doanh thu, chi phí thực tế phát sinh nhưng không được ghi sổ và cung cấp trong Báo cáo kế toán.

– Rủi ro về tính hiệu quả: các khoản chi phí chi ra không hợp lý làm cho hoạt động hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả.

– Rủi ro về tính trình bày và khai báo: doanh thu, chi phí không được đánh giá đúng, thông tin trình bày trên Báo cáo kế toán không hợp lý.

Xét theo nguồn gây ra rủi ro có:

– Rủi ro do qui mô, tính phức tạp của quá trình SXKD của DN (rủi ro tiềm tàng).

– Rủi ro do Nhà nước thay đổi cơ chế chính sách.

– ….

2/ Đánh giá rủi ro

Quá trình đánh giá rủi ro cần thực hiện qua các giai đoạn:

 

Trước hết kiểm toán viên cần căn cứ kế hoạch KTNB năm, yêu cầu của lãnh đạo cấp cao trong DN để xác định đối tượng nào sẽ được đưa vào chương trình kiểm toán này. Sau đó kiểm toán viên cần tìm hiểu từng đối tượng kiểm toán cụ thể, xem xét các nhân tố có khả năng làm tăng rủi ro của DN. Công việc này luôn được coi trọng mặc dù kiểm toán viên là người của DN. Lý do là KTV không thể hiểu một cách sâu sắc mọi công việc trong từng hoạt động, từng bộ phận trong DN. Trong quá trình tìm hiểu KTV đặt các câu hỏi và tìm đáp án hợp lý nhất:

– Những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của DN.

– Lãnh đạo các cấp của DN có chính sách gì trong quản lý, điều hành hoạt động đơn vị cũng như sự quan tâm tới kết quả kiểm toán nội bộ (trước kia và hiện nay)?

– Trong giai đoạn hiện nay DN có ưu tiên tối đa hóa lợi nhuận không?

– Cơ chế tính tiền lương, thưởng cho người quản lý, viên chức?

– DN có tham gia các hoạt động của cộng đồng không?

– Trưởng các bộ phận kế toán, kinh doanh,… có bị áp lực bất thường không?

– Giữa các cán bộ ở các vị trí, bộ phận quan trọng có mối quan hệ họ hàng hay tình cảm không?

– Trong vòng 12 tháng trở lại, DN có sản phẩm, dịch vụ mới không?

Trên cơ sở những rủi ro có thể xảy ra, bộ phận KTNB lựa chọn các nhân tố chủ yếu và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên để làm cơ sở đánh giá. Do có thể có nhiều loại rủi ro nên kiểm toán viên cần chọn những rủi ro quan trọng nhất đối với các bộ phận trong DN (5 – 10 loại) để xem xét. Công việc này được thực hiện dựa trên kinh nghiệm của kiểm toán viên với các đối tượng được kiểm toán, kết hợp với tham khảo các thông tin từ người quản lý và các nguồn khác. Chẳng hạn, khi kiểm toán hoạt động huy động vốn của ngân hàng cần xem xét rủi ro về lãi suất, rủi ro môi trường trong nước và thế giới, rủi ro đạo đức của cán bộ huy động vốn. Còn khi kiểm toán quá trình thi công các công trình XDCB tại các DN xây lắp cần quan tâm hơn tới rủi ro không tuân thủ các qui định trong xây dựng, thiết kế, rủi ro do tập hợp chi phí không chính xác và đúng kỳ, rủi ro về tính hiệu quả sản xuất. Trong mọi trường hợp bộ phận KTNB đều xây dựng mô hình đánh giá rủi ro cho từng đối tượng kiểm toán theo mẫu:

BẢNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO

Bộ phận (hoạt động)………

Rủi ro Điểm cho mức độ ảnh hưởng Điểm cho khả năng xảy ra

Kiểm toán viên nội bộ chấm điểm về khả năng xảy ra và mức độ nghiêm trọng cho từng bộ phận hoạt động, từng nội dung theo nguyên tắc khả năng rủi ro càng lớn thì điểm càng cao (thang điểm 10/10). Trong đó rủi ro có mức độ nghiêm trọng, khả năng xảy ra gần như chắc chắn (76 – 100%) có điểm cao nhất từ 8 – 10 điểm, còn những rủi ro hiếm khi xảy ra (dưới 5%) có điểm thấp nhất từ 0 đến 2 điểm. Sau đó kiểm toán viên có thể lập Bảng tổng hợp rủi ro của các đối tượng kiểm toán trong đó sắp xếp các bộ phận (hoạt động) theo thứ tự ưu tiên trên cơ sở tổng điểm rủi ro. Nếu có những đối tượng cùng điểm thì căn cứ thêm vào các nhân tố khác để xếp hạng.

 

BẢNG TỔNG HỢP RỦI RO

 

STT

Rủi ro

Bộ phận (hoạt động)

….. ……  

Tổng điểm rủi ro

1
2

 

Các phương pháp đánh giá rủi ro mà KTV nội bộ có thể sử dụng là:

– Phương pháp hồi cố: đánh giá hoạt động đã qua thông qua các bằng chứng có giá trị (chứng từ, thông tin thứ cấp).

– Phương pháp dự báo: đánh giá tác động tiềm tàng gây ra bởi các tác nhân đang tồn tại và sẽ phát triển trong tương lai.

3/ Tư vấn DN quản lý rủi ro

Từ kết quả đánh giá rủi ro, kiểm toán viên có thể tư vấn cho các nhà quản lý DN các biện pháp quản lý rủi ro theo các hướng:

– Giảm rủi ro bằng cách tăng cường việc sử dụng hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm làm giảm khả năng xuất hiện hoặc sự tác động của rủi ro xuống mức có thể chấp nhận.

– Tránh rủi ro bằng việc không tiến hành một số hoạt động

– Chấp nhận rủi ro nếu rủi ro không lớn

– Chuyển giao rủi ro cho tổ chức khác như mua bảo hiểm, góp vốn liên doanh, đấu thầu lại.

Ví dụ một DN có hoạt động kinh doanh ở nước ngoài dễ gặp phải rủi ro thị trường, rủi ro tỷ giá hối đoái. Trường hợp này hoạt động của DN phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá hối đoái. KTNB có thể đề xuất các phương án như sau:

Một là: giảm rủi ro bằng cách thuê các chuyên gia về ngoại tệ; đa dạng hóa các hoạt động SXKD và thực hiện hợp đồng nhập khẩu song song với hợp đồng xuất khẩu để lấy lãi hoạt động này bù lỗ hoạt động kia; sử dụng công cụ phòng ngừa như thực hiện giao dịch kỳ hạn, quyền chọn tiền tệ, gia tăng dự phòng thông qua những nghiệp vụ phái sinh trên thị trường ngoại hối,…; bán rủi ro cho trung gian tài chính,…

Hai là: tránh rủi ro bằng cách ngừng hoạt động kinh doanh ở nước ngoài hoặc giữ nguyên hoạt động tại khu vực đó

Ba là: chấp nhận rủi ro và không tiến hành bất kỳ hoạt động nào.

Bốn là: chuyển giao rủi ro bằng việc sử dụng các biện pháp đề phòng hoặc chứng tỏ rằng tất cả các đơn hàng mua và bán đều nằm trong khả năng tài chính của DN.

Hoặc trong DN xây lắp, KTNB có thể tư vấn:

+ Giảm rủi ro bằng cách kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng máy thi công, qui định chế độ báo cáo và cung cấp thông tin từ công trường thích hợp. DN cần xác định cụ thể nội dung thông tin báo cáo, thời gian báo cáo (tùy thuộc vào vị trí của công trình so với văn phòng DN gần hay xa) phương thức báo cáo (văn bản, điện thoại,…), người báo cáo, người nhận và kiểm tra báo cáo, chế độ thưởng (báo cáo sớm), phạt (báo cáo chậm, sai sự thật). Phòng kế toán có tạo điều kiện cho hoạt động của các bộ phận chức năng không, có gây khó khăn ở khâu nào,…?. Đồng thời DN cũng phải thường xuyên tổ chức đánh giá việc thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro.

+  Né tránh rủi ro bằng cách chỉ thực hiện những giao dịch có khả năng phát giác rủi ro lớn.

+ Đa dạng hóa rủi ro bằng cách đa dạng hóa thị trường, sản phẩm ( thực hiện thêm các hoạt động khác như sản xuất, kinh doanh hàng hóa, kinh doanh bất động sản đầu tư,….)

+ Chuyển giao rủi ro bằng cách mua bảo hiểm cho những công trình có khả năng xảy ra rủi ro cao, thực hiện liên kết, liên doanh với các đơn vị khác, giao thầu cho các nhà thầu phụ. Phương án này nên thực hiện khi chi phí thực hiện cao hơn chi phí chuyển giao.

Kết quả KTNB chỉ có thể trợ giúp DN đạt được mục tiêu hoạt động khi lãnh đạo đơn vị thiết lập chương trình hoạt động cho KTNB; tiếp nhận và coi trọng báo cáo KTNB; đảm bảo sự hỗ trợ nhất định cho KTNB về tài chính, công việc; tổ chức KTNB có vị trí nhất định trong bộ máy quản lý của DN, hay nói cách khác DN thực sự quan tâm tới công tác KTNB. Mặt khác, công việc này đòi hỏi kiểm toán viên nội bộ không những phải có chuyên môn cao về kiểm toán mà còn phải có kiến thức về các lĩnh vực khác như quản trị doanh nghiệp, quản trị nhân sự, kinh tế môi trường, kỹ thuật,… Trường hợp kiểm toán viên không thể thỏa mãn nhiều yêu cầu về chuyên môn như vậy thì DN cần bố trí thêm những cán bộ có chuyên môn chuyên sâu trong các lĩnh vực khác tham gia vào KTNB.

Phát triển công tác KTNB trong các DN cả về chiều rộng lẫn chiều sâu là công việc không dễ dàng. Để đạt được mục đích này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước với các DN  trong việc đưa ra hành lang pháp lý thuận lợi cũng như quản lý, kiểm soát công việc này./.

TS.Trần Thị Hồng Mai

Đại học Thương mại

Dich vu kiem toan

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s